Strasmore Research
Học tập Matt ConnorBởi Matt Connor · Cập nhật 2026-08-08 · data as of August 8, 2026 · refreshed weekly

Straddle và strangle: hòa vốn, margin

So sánh straddle và strangle qua công thức hòa vốn, margin bên short, xác suất có lãi và expected move, kèm ví dụ giúp bạn chọn chiến lược phù hợp.

Straddle và strangle khác nhau ở một điểm: hai chân quyền chọn có cùng giá thực hiện hay hai giá thực hiện khác nhau. Long straddle mua một call và một put tại cùng giá thực hiện, tốn phí quyền chọn cao hơn và bắt đầu có lãi khi giá cơ sở biến động ít hơn. Long strangle mua call có giá thực hiện cao hơn giá hiện tại và put có giá thực hiện thấp hơn giá hiện tại, tốn ít hơn và cần biến động lớn hơn mới tạo ra lợi nhuận.

Sự khác biệt giữa straddle và strangle là gì?

Cả hai đều là vị thế gồm hai chân, trung lập với hướng đi của giá: một call và một put trên cùng tài sản cơ sở, cùng ngày đáo hạn. Lợi nhuận phụ thuộc vào quy mô biến động thay vì hướng biến động. Điểm khác biệt về cấu trúc chỉ nằm ở giá thực hiện. Straddle dùng một giá thực hiện, thường là giá gần nhất với giá hiện tại (at the money). Strangle dùng hai giá thực hiện: giá thực hiện của call nằm trên giá hiện tại, còn giá thực hiện của put nằm dưới giá hiện tại. Khoảng cách giữa hai giá này là độ rộng của strangle.

Độ rộng đó quyết định mọi yếu tố còn lại: chi phí, các mức hòa vốn, quy mô biến động cần thiết, số vốn bên bán phải ký quỹ và xác suất kết thúc có lãi. Định nghĩa chỉ cần một đoạn. Bốn điểm dưới đây mới là cơ sở thực sự để so sánh.

Tính điểm hòa vốn của straddle hoặc strangle như thế nào?

Tổng premium là tổng phí quyền chọn của cả hai chân, vì bên mua phải trả cho cả hai. Mỗi điểm hòa vốn trong các cấu trúc này đều bắt đầu từ một giá thực hiện, sau đó được điều chỉnh bằng tổng premium.

  1. Long straddle, chiều tăng: giá thực hiện cộng tổng premium.
  2. Long straddle, chiều giảm: giá thực hiện trừ tổng premium.
  3. Long strangle, chiều tăng: giá thực hiện của call cộng tổng premium.
  4. Long strangle, chiều giảm: giá thực hiện của put trừ tổng premium.

Xét một cổ phiếu giả định có giá $100. Straddle at the money có giá $8.00 cho cả hai chân, tạo các điểm hòa vốn tại $108 và $92, tương ứng mức biến động 8% theo cả hai hướng. Strangle 95/105 có giá $4.00 cho cả hai chân, tạo các điểm hòa vốn tại $109 và $91, tương ứng mức biến động 9% theo cả hai hướng. Chi phí giảm một nửa nhưng mức biến động cần thiết ở mỗi phía tăng thêm một điểm phần trăm. Mức lỗ tối đa của vị thế long là premium đã trả. Khoản lỗ này chỉ xảy ra toàn bộ nếu tài sản cơ sở kết thúc đúng tại giá thực hiện của straddle hoặc nằm ở bất kỳ mức nào giữa hai giá thực hiện của strangle. Lợi nhuận tối đa là không giới hạn ở phía tăng và chỉ bị giới hạn ở phía giảm bởi mức giá bằng zero.

Nếu tiếp tục mở rộng strangle, cả hai hiệu ứng đều tăng. Cặp 90/110 trên cùng cổ phiếu giá $100 có chi phí thấp hơn cặp 95/105 và lại cần biến động lớn hơn. Không có độ rộng nào khiến cấu trúc rẻ hơn đồng thời cũng dễ có lãi hơn. Đây là sự đánh đổi cốt lõi của toàn bộ phép so sánh. Giá quyền chọn được báo theo mỗi cổ phiếu, vì vậy cần nhân với 100 cho một hợp đồng.

Short straddle và short strangle cần bao nhiêu vốn?

Khi bán các cấu trúc tương tự, mọi yếu tố sẽ đảo chiều. Short straddle thu premium tổng hợp tại một giá thực hiện; short strangle thu ít premium hơn tại hai giá thực hiện. Lợi nhuận tối đa của bên bán trong cả hai cấu trúc là khoản credit nhận được. Bên bán chỉ giữ trọn khoản này nếu tài sản cơ sở tất toán đúng tại giá thực hiện trong trường hợp straddle, hoặc nằm ở bất kỳ mức nào giữa hai giá thực hiện trong trường hợp strangle. Mức lỗ tối đa là không xác định ở phía tăng và chỉ được giới hạn ở phía giảm bởi mức giá bằng zero, vì không cấu trúc nào sở hữu quyền chọn long để giới hạn rủi ro ở phần đuôi.

Vốn được tính khác với spread có rủi ro xác định. Broker thường không cộng hai mức ký quỹ cho các chân naked, vì tại thời điểm đáo hạn chỉ một phía có thể bị assignment đối với bên bán. Mức yêu cầu được tính trên phía đang bị kiểm định: lấy mức yêu cầu lớn hơn trong hai chân đơn, sau đó cộng premium của chân còn lại. Các giá thực hiện out-of-the-money của strangle thường có mức yêu cầu cho từng phía thấp hơn straddle at the money cùng quy mô. Con số này cũng không cố định tại thời điểm mở vị thế, vì sẽ được tính lại khi tài sản cơ sở tiến gần một trong hai giá thực hiện. Công thức cụ thể khác nhau tùy broker và loại tài khoản.

Cấu trúc nào có xác suất có lãi cao hơn?

Các điểm hòa vốn rộng hơn tạo ra tác động trái chiều đối với hai phía của giao dịch. Với bên bán, các điểm hòa vốn của strangle nằm xa giá hiện tại hơn. Vì vậy, nhiều kịch bản hơn sẽ kết thúc trong vùng hòa vốn, nhưng khoản credit thu được nhỏ hơn. Xác suất giữ lại được một khoản nào đó cao hơn, nhưng khoản giữ lại nhỏ hơn. Với bên mua, cùng đặc điểm đó lại là một bất lợi: cấu trúc rẻ hơn cần mức biến động lớn hơn.

Không ai có thể cung cấp chắc chắn cho trader xác suất của một biến động trong tương lai. Dữ liệu chỉ có thể cho thấy trong quá khứ, biến động ở mỗi quy mô đã xảy ra thường xuyên đến đâu. Bảng dưới đây lấy mọi khung 21 phiên của SPY kể từ năm 2011, tương đương khoảng một tháng theo lịch, rồi đo tỷ lệ các khung kết thúc cách điểm bắt đầu ít nhất một khoảng nhất định.

Truy vấnTần suất SPY di chuyển một khoảng nhất định trong 21 phiên
Câu lệnh SQL chính xác đằng sau mỗi con số
WITH
    daily AS
    (
        SELECT
            date,
            max(toFloat64(close)) AS close_px
        FROM global_markets.stocks_daily_aggs
        WHERE ticker = 'SPY'
          AND date >= '2011-01-01'
          AND date <  '2026-07-01'
        GROUP BY date
    ),
    spans AS
    (
        SELECT
            close_px,
            leadInFrame(close_px, 21)
                OVER (ORDER BY date ASC ROWS BETWEEN CURRENT ROW AND UNBOUNDED FOLLOWING) AS close_fwd
        FROM daily
    )
SELECT
    concat(toString(threshold), '% or more')                                     AS move_size,
    round(100 * countIf(abs(100 * (close_fwd - close_px) / close_px) >= threshold)
        / count(), 1)                                                            AS share_of_windows_pct
FROM spans
ARRAY JOIN [2, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 12] AS threshold
WHERE close_fwd > 0
GROUP BY threshold
ORDER BY threshold
Run this yourself

62.4% trong số các khung đó kết thúc cách điểm bắt đầu 2% or more, và 1.4% đạt 12% or more. Đặt đường cong này cạnh khoảng cách đến điểm hòa vốn, việc lựa chọn không còn chỉ là vấn đề khẩu vị. Mức 8% mà straddle giả định ở trên cần và mức 9% mà strangle 95/105 cần nằm ở những vị trí rất khác nhau trên đường cong. Khoảng cách giữa hai điểm đó chính là phần mà bên bán được trả tiền để gánh, còn bên mua phải trả thêm để có cơ hội hưởng lợi.

Straddle và strangle: ghép độ rộng với mức biến động kỳ vọng

Đây là quy tắc giúp so sánh hai cấu trúc. Đo khoảng cách đến điểm hòa vốn của từng cấu trúc so với mức biến động kỳ vọng hàm ý từ IV, tức khoảng biến động một độ lệch chuẩn mà thị trường quyền chọn đang định giá cho kỳ hạn đó. Biến động hàm ý được báo theo năm, vì vậy để quy đổi sang một kỳ hạn cụ thể, cần nhân với căn bậc hai của thời gian còn lại.

Truy vấnMức biến động kỳ vọng trong một tháng do thị trường quyền chọn định giá
Câu lệnh SQL chính xác đằng sau mỗi con số
SELECT
    underlying_symbol                       AS symbol,
    round(100 * avg(implied_volatility), 1) AS implied_vol_pct,
    round(100 * avg(implied_volatility)
        * sqrt(avg(days_to_expiry) / 365), 2) AS expected_move_pct
FROM global_markets.options_greeks
WHERE date =
    (
        SELECT max(date)
        FROM global_markets.options_greeks
        WHERE underlying_symbol = 'SPY'
          AND date >= today() - 90
          AND iv_converged = 1
          AND volume > 0
    )
  AND underlying_symbol IN ('SPY', 'QQQ', 'AAPL', 'MSFT', 'NVDA', 'KO')
  AND iv_converged = 1
  AND volume > 0
  AND days_to_expiry BETWEEN 20 AND 45
  AND abs(toFloat64(strike_price) / toFloat64(underlying_close) - 1) < 0.05
GROUP BY underlying_symbol
ORDER BY expected_move_pct DESC
Run this yourself

Trên chain gần nhất, NVDA định giá mức biến động kỳ vọng trong một tháng rộng nhất trong nhóm ở 12.57%, với implied volatility là 42.1%. SPY định giá mức hẹp nhất, 3.9%. Cùng một độ rộng tính theo dollar sẽ mang ý nghĩa khác nhau trên từng mã.

Chia khoảng cách đến điểm hòa vốn cho mức biến động kỳ vọng, cả hai cấu trúc sẽ được đưa về cùng một thang đo. Điểm hòa vốn cách 8% trong khi mức biến động kỳ vọng là 6% tương đương 1.3 lần biến động kỳ vọng. Strangle cách 9% trên cùng mã tương đương 1.5 lần. Không con số nào dự báo chắc chắn điều gì. Nhưng cả hai cho phép trader so sánh straddle at the money trên một mã với strangle rộng trên mã khác, điều mà chỉ dùng giá theo dollar không thể thực hiện.

Mùa công bố kết quả kinh doanh làm các yếu tố này rõ hơn. Implied volatility thường tăng trước một sự kiện đã được lên lịch và giảm sau khi thông tin được công bố. Hiệu ứng này được đề cập trong IV crush. Cả hai cấu trúc long đều sở hữu exposure với volatility, nên đều mất giá trị tại thời điểm đó. Kết quả kinh doanh làm thay đổi các option greeks trên cả hai chân cùng lúc. Long straddle hoặc strangle được nắm giữ qua thời điểm công bố báo cáo chỉ có lãi khi biến động thực tế vượt qua khoảng cách đến điểm hòa vốn đã được định giá trước đó.

Vega và time decay thể hiện như thế nào ở mỗi cấu trúc?

Cả hai cấu trúc long đều sở hữu hai quyền chọn. Vì vậy, cả hai đều tăng giá trị khi implied volatility tăng (long vega) và mất dần một phần giá trị sau mỗi ngày trôi qua (short theta). Độ rộng sẽ khuếch đại cả hai mức exposure này.

Một cặp at the money có vega cao hơn một cặp có các giá thực hiện cách đều hai phía với cùng khoảng cách, vì vega của một quyền chọn đạt đỉnh gần giá hiện tại và giảm dần khi giá thực hiện nằm xa hơn. Time decay cũng diễn biến tương tự: cặp at the money mất nhiều giá trị hơn mỗi ngày xét theo số tuyệt đối, đồng thời có nhiều premium hơn để mất. Straddle là phiên bản có mức exposure cao hơn của cùng ý tưởng trên cả hai phương diện. Các option greeks vận động giống nhau trên hai chân; độ rộng chỉ làm thay đổi quy mô exposure, còn vega là thước đo phân biệt hai cấu trúc rõ nhất.

FAQ

Straddle hay strangle rẻ hơn?

Strangle rẻ hơn nếu cùng ngày đáo hạn và cùng quy mô. Cả hai chân của strangle đều out of the money, nên premium của mỗi chân thấp hơn cặp at the money mà straddle mua. Đổi lại, các điểm hòa vốn sẽ rộng hơn.

Straddle hay strangle có xác suất có lãi cao hơn?

Với bên bán là short strangle. Các điểm hòa vốn nằm xa hơn, nên nhiều kịch bản kết thúc trong vùng đó hơn, nhưng credit thu được nhỏ hơn. Với bên mua, thứ hạng đảo ngược, vì long straddle cần mức biến động nhỏ hơn để đạt điểm hòa vốn, dù chi phí cao hơn.

Tính điểm hòa vốn của strangle như thế nào?

Cộng premium của cả hai chân để có tổng chi phí. Sau đó cộng tổng này vào giá thực hiện của call để có điểm hòa vốn phía tăng, và trừ tổng này khỏi giá thực hiện của put để có điểm hòa vốn phía giảm. Strangle 95/105 có chi phí $4.00 sẽ hòa vốn tại $109 và $91.

Short strangle có cần ít vốn hơn short straddle không?

Thông thường là có, nếu cùng quy mô. Mức yêu cầu được tính trên phía đang bị kiểm định thay vì cộng hai chân naked, và các giá thực hiện out-of-the-money có mức yêu cầu cho từng phía thấp hơn các giá thực hiện at the money. Cả hai vẫn có rủi ro không xác định, và công thức thay đổi tùy broker.


Mỗi bảng trong bài đều có câu lệnh SQL tạo ra dữ liệu, chỉ cần mở rộng một lần là xem được. Để định giá các cấu trúc này trên một mã bạn theo dõi, hãy yêu cầu bằng tiếng Anh tự nhiên trên terminal Strasmore.