Cổ phiếu Mỹ nào có quyền chọn LEAPS dài nhất?
Bao nhiêu mã cổ phiếu Mỹ có quyền chọn LEAPS đáo hạn quá một năm, chuỗi nào dài nhất, một hợp đồng tốn bao nhiêu USD, và thanh khoản mỏng tới đâu.
Cổ phiếu Mỹ nào có quyền chọn LEAPS? Tính đến 24/09/2026, có 1558 mã cơ sở ở Mỹ đang có ít nhất một kỳ đáo hạn cách ngày tính toán hơn 365 ngày, và đó đúng là định nghĩa của LEAPS. Số mã giữ được kỳ hạn dài hơn nữa hẹp lại rất nhanh, nên “mã này có options” và “mã này có LEAPS hai năm” là hai câu khác nhau. Phần định nghĩa và cơ chế đã nằm ở quyền chọn LEAPS là gì; bài này trả lời câu hỏi kế tiếp của người sắp đặt lệnh thật: mã nào có, chuỗi dài nhất tới đâu, chuỗi đó mỏng hay dày, và một hợp đồng tốn bao nhiêu tiền.
LEAPS là một kỳ đáo hạn, không phải một sản phẩm riêng
LEAPS viết tắt của Long term Equity AnticiPation Securities, nhưng trên sàn nó không khác một hợp đồng quyền chọn thường: cùng mã cơ sở, cùng cách khớp lệnh, cùng hệ số 100 cổ phiếu cho mỗi hợp đồng, cùng nơi thanh toán bù trừ. Khác biệt duy nhất là thời gian còn lại, thường tính từ khoảng 12 tháng trở lên. Theo quy ước niêm yết, phần lớn LEAPS rơi vào kỳ đáo hạn tháng 1 của các năm sau, bên cạnh một vài kỳ tháng 6, tháng 9 hoặc tháng 12 ở những mã giao dịch dày. Bản đồ đầy đủ của các kỳ hạn nằm trong chu kỳ đáo hạn của quyền chọn, còn thái cực ngược lại, các hợp đồng đáo hạn theo tuần, nằm ở mã nào có quyền chọn tuần.
Có bao nhiêu mã cổ phiếu Mỹ đang có LEAPS?
Cách đếm thẳng nhất: lấy ảnh chụp toàn bộ chuỗi quyền chọn của phiên gần nhất, với mỗi mã cơ sở tìm kỳ đáo hạn xa nhất, rồi đếm số mã vượt từng mốc thời gian. Bốn mốc dưới đây là 365 ngày (một năm), 456 ngày, 548 ngày và 730 ngày (hai năm). Mỗi mốc tính dồn, nên một mã có kỳ đáo hạn cách 800 ngày được đếm ở cả bốn dòng.
| horizon | snapshot_label | underlyings |
|---|---|---|
| trên 365 ngày | 24/09/2026 | 1558 |
| trên 456 ngày | 24/09/2026 | 1449 |
| trên 548 ngày | 24/09/2026 | 1010 |
| trên 730 ngày | 24/09/2026 | 1008 |
Câu lệnh SQL chính xác đằng sau mỗi con số
WITH (SELECT max(date) FROM global_markets.options_greeks) AS asof
SELECT
concat('trên ', toString(threshold), ' ngày') AS horizon,
formatDateTime(asof, '%d/%m/%Y') AS snapshot_label,
countDistinct(underlying_symbol) AS underlyings
FROM
(
SELECT
underlying_symbol,
max(dateDiff('day', date, expiration_date)) AS max_dte
FROM global_markets.options_greeks
WHERE date = asof
AND underlying_symbol NOT IN ('SPCX')
GROUP BY underlying_symbol
) AS per_name
ARRAY JOIN [365, 456, 548, 730] AS threshold
WHERE max_dte > threshold
GROUP BY threshold, snapshot_label
ORDER BY thresholdỞ mốc trên 365 ngày, danh sách có 1558 mã. Sang mốc trên 456 ngày còn 1449 mã. Đến mốc xa nhất trong bảng, trên 730 ngày, chỉ còn 1008 mã. Hình dáng của cột số này là thông tin quan trọng nhất trong cả bài: kỳ hạn càng xa thì danh sách càng hẹp, và phần đuôi xa nhất nghiêng hẳn về nhóm vốn hóa lớn cùng vài ETF chỉ số có khối lượng lớn. Ngày tính toán 24/09/2026 được in ngay trong bảng, nên mỗi lần trang này chạy lại số liệu, bạn biết con số thuộc về phiên nào và tự kiểm tra lại được.
Một lưu ý về cách đếm. Bảng trên dựa vào các hợp đồng thực sự xuất hiện trong dữ liệu chuỗi quyền chọn của phiên đó. Một hợp đồng đã niêm yết nhưng chưa có báo giá nào có thể chưa nằm trong đó, nên con số này nên đọc là “số mã đang có LEAPS sống”, chặt hơn một chút so với danh sách niêm yết trên giấy.
Chuỗi dài nhất của từng mã dài bao nhiêu?
Câu hỏi tiếp theo là kỳ xa nhất của một mã cụ thể nằm ở đâu. Bảng dưới lấy một nhóm gồm vài mã vốn hóa lớn, một ETF chỉ số và vài mã vốn hóa vừa, rồi trả về kỳ đáo hạn xa nhất đang có của mỗi tên, kèm số kỳ đáo hạn nằm ngoài mốc một năm.
| symbol | tier | longest_expiry | dte_max | leaps_expiries |
|---|---|---|---|---|
| AAPL | vốn hóa lớn | 19/01/2029 | 848 | 6 |
| AMZN | vốn hóa lớn | 19/01/2029 | 848 | 5 |
| CHWY | vốn hóa vừa | 19/01/2029 | 848 | 2 |
| DKNG | vốn hóa vừa | 19/01/2029 | 848 | 3 |
| ETSY | vốn hóa vừa | 19/01/2029 | 848 | 4 |
| KO | vốn hóa lớn | 19/01/2029 | 848 | 4 |
| LYFT | vốn hóa vừa | 19/01/2029 | 848 | 5 |
| MSFT | vốn hóa lớn | 19/01/2029 | 848 | 5 |
| NVDA | vốn hóa lớn | 19/01/2029 | 848 | 5 |
| SPY | ETF chỉ số | 19/01/2029 | 848 | 5 |
| CROX | vốn hóa vừa | 21/01/2028 | 484 | 1 |
Câu lệnh SQL chính xác đằng sau mỗi con số
WITH (SELECT max(date) FROM global_markets.options_greeks) AS asof
SELECT
symbol,
tier,
longest_expiry,
dte_max,
leaps_expiries
FROM
(
SELECT
underlying_symbol AS symbol,
any(multiIf(underlying_symbol = 'SPY', 'ETF chỉ số',
underlying_symbol IN ('AAPL', 'MSFT', 'NVDA', 'AMZN', 'KO'), 'vốn hóa lớn',
'vốn hóa vừa')) AS tier,
formatDateTime(max(expiration_date), '%d/%m/%Y') AS longest_expiry,
max(dateDiff('day', date, expiration_date)) AS dte_max,
countDistinctIf(expiration_date,
dateDiff('day', date, expiration_date) > 365) AS leaps_expiries
FROM global_markets.options_greeks
WHERE date = asof
AND underlying_symbol IN ('AAPL', 'MSFT', 'NVDA', 'AMZN', 'KO', 'SPY',
'ETSY', 'CROX', 'CHWY', 'LYFT', 'DKNG')
GROUP BY underlying_symbol
)
ORDER BY dte_max DESC, symbolTrong nhóm này, AAPL dẫn đầu với kỳ xa nhất là 19/01/2029, cách ngày tính toán 848 ngày, và có 6 kỳ đáo hạn khác nhau nằm ngoài mốc một năm. Ở cuối bảng, CROX chỉ có kỳ xa nhất cách 484 ngày. Cột leaps_expiries là phần dễ bị bỏ qua: có LEAPS thường nghĩa là có hai hoặc ba kỳ tháng 1 nối tiếp nhau, chứ không phải một dãy kỳ hạn liên tục như phần đầu của chuỗi. Bạn chọn năm đáo hạn, không chọn tháng.
Có LEAPS không đồng nghĩa với mua bán được dễ
Availability và liquidity là hai chuyện tách rời. Để thấy rõ, hãy đi theo một mã duy nhất và xem khối lượng khớp phân bổ thế nào giữa các kỳ đáo hạn trong cùng một phiên. Bảng dưới lấy AAPL, đếm số hợp đồng có giao dịch ở từng kỳ và khối lượng khớp trung bình trên mỗi hợp đồng.
| expiry | dte | contracts | volume_per_contract |
|---|---|---|---|
| 25/09/2026 | 1 | 108 | 5193.2 |
| 28/09/2026 | 4 | 57 | 864.7 |
| 30/09/2026 | 6 | 56 | 327.8 |
| 02/10/2026 | 8 | 76 | 533.4 |
| 05/10/2026 | 11 | 43 | 79 |
| 07/10/2026 | 13 | 30 | 23.5 |
| 09/10/2026 | 15 | 64 | 316.6 |
| 16/10/2026 | 22 | 95 | 464.8 |
| 23/10/2026 | 29 | 59 | 151.9 |
| 30/10/2026 | 36 | 47 | 92.3 |
| 06/11/2026 | 43 | 42 | 19.1 |
| 20/11/2026 | 57 | 78 | 208.7 |
| 18/12/2026 | 85 | 98 | 147.9 |
| 15/01/2027 | 113 | 101 | 95.8 |
| 19/02/2027 | 148 | 45 | 35.1 |
| 19/03/2027 | 176 | 63 | 99.7 |
| 16/04/2027 | 204 | 51 | 33.3 |
| 17/06/2027 | 266 | 69 | 50.6 |
| 17/09/2027 | 358 | 61 | 48.6 |
| 17/12/2027 | 449 | 59 | 21 |
Câu lệnh SQL chính xác đằng sau mỗi con số
WITH (SELECT max(date) FROM global_markets.options_greeks) AS asof
SELECT
formatDateTime(expiration_date, '%d/%m/%Y') AS expiry,
dateDiff('day', asof, expiration_date) AS dte,
count() AS contracts,
round(sum(volume) / count(), 1) AS volume_per_contract
FROM global_markets.options_greeks
WHERE date = asof
AND underlying_symbol = 'AAPL'
AND volume > 0
GROUP BY expiration_date
ORDER BY expiration_datePhiên đó AAPL có giao dịch ở 25 kỳ đáo hạn khác nhau. Ở kỳ gần nhất, 25/09/2026, mỗi hợp đồng có giao dịch khớp trung bình 5193.2 hợp đồng trong phiên. Ở kỳ xa nhất, 19/01/2029, cách 848 ngày, con số đó là 31, trên 43 hợp đồng có khớp. Cùng một mã, cùng một phiên, hai đầu của bảng ở hai thế giới thanh khoản khác nhau.
Khối lượng mỏng đi kèm với chênh lệch giá mua và giá bán rộng hơn. Với chuỗi mỏng, lệnh giới hạn là cách duy nhất để kiểm soát giá khớp, còn lệnh thị trường trên một hợp đồng có chênh lệch rộng thì khớp ở đâu chỉ biết sau khi đã khớp. Đây cũng là lý do nhiều người theo kỳ hạn dài tập trung vào nhóm hợp đồng sâu trong giá, nơi phần giá trị thời gian nhỏ hơn so với giá trị nội tại; cơ chế đó nằm ở LEAPS sâu trong giá.
Một hợp đồng LEAPS tốn bao nhiêu USD?
Giá quyền chọn niêm yết theo mỗi cổ phiếu, còn một hợp đồng đại diện 100 cổ phiếu, nên số tiền phải nộp là giá niêm yết nhân 100. Bảng dưới chọn cho mỗi mã một hợp đồng tiêu biểu: quyền chọn mua có kỳ đáo hạn xa nhất còn giao dịch ngoài mốc 365 ngày, giá thực hiện lệch dưới 5 phần trăm so với giá đóng cửa của cổ phiếu.
| symbol | expiry | premium_usd | contract_cost_usd |
|---|---|---|---|
| SPY | 19/01/2029 | 125 | 12500 |
| MSFT | 19/01/2029 | 117.5 | 11750 |
| AAPL | 19/01/2029 | 73.2 | 7320 |
| AMZN | 19/01/2029 | 67.5 | 6750 |
| NVDA | 19/01/2029 | 63 | 6300 |
| KO | 19/01/2029 | 14.15 | 1415 |
Câu lệnh SQL chính xác đằng sau mỗi con số
WITH (SELECT max(date) FROM global_markets.options_greeks) AS asof
SELECT
symbol,
expiry,
premium_usd,
contract_cost_usd
FROM
(
SELECT
underlying_symbol AS symbol,
formatDateTime(expiration_date, '%d/%m/%Y') AS expiry,
round(toFloat64(option_close), 2) AS premium_usd,
round(toFloat64(option_close) * 100, 0) AS contract_cost_usd
FROM global_markets.options_greeks
WHERE date = asof
AND underlying_symbol IN ('AAPL', 'MSFT', 'NVDA', 'AMZN', 'KO', 'SPY')
AND lower(option_type) IN ('call', 'c')
AND iv_converged = 1
AND volume > 0
AND days_to_expiry > 365
AND abs(toFloat64(strike_price) / toFloat64(underlying_close) - 1) < 0.05
ORDER BY
underlying_symbol,
days_to_expiry DESC,
abs(toFloat64(strike_price) / toFloat64(underlying_close) - 1) ASC
LIMIT 1 BY underlying_symbol
)
ORDER BY contract_cost_usd DESCHợp đồng đắt nhất trong bảng thuộc SPY, kỳ 19/01/2029: giá đóng cửa 125 USD mỗi cổ phiếu, tức 12500 USD cho một hợp đồng. Ở đầu kia của bảng, KO chỉ 1415 USD một hợp đồng. Khoảng cách giữa hai con số nhắc một điều đơn giản: quy mô tối thiểu của một vị thế LEAPS do giá cổ phiếu quyết định, không do bạn quyết định, vì không thể mua nửa hợp đồng.
Phí giao dịch là lớp chi phí thứ hai. Bảng phí công bố của các công ty môi giới quốc tế nhận giao dịch quyền chọn Mỹ thường nằm quanh 0,5 đến 1 USD cho mỗi hợp đồng, cộng vài cent phí sàn và phí thanh toán (tham chiếu tháng 9/2026). Một vòng vào và ra cho một hợp đồng vì thế thường dưới 3 USD, nhỏ so với chênh lệch giá mua bán mà bạn phải trả khi chuỗi mỏng.
Lớp thứ ba là tiền tệ, và đây là lớp người mua ở Việt Nam hay tính thiếu. Lấy một ví dụ tròn số cho dễ hình dung: một hợp đồng giá 2.000 USD, ở mức tỷ giá 26.000 VND cho 1 USD, tương đương khoảng 52 triệu VND phải nộp trước bằng ngoại tệ cho một vị thế duy nhất. Tỷ giá bạn thực nhận là tỷ giá ngày chuyển tiền, cộng phí chuyển và phí quy đổi, nên con số cuối cùng luôn phải tính lại theo bảng phí thực tế của ngày đặt lệnh. Phần so sánh giữa việc trả trước giá trị thời gian của một LEAPS và việc vay ký quỹ để nắm cổ phiếu nằm ở chi phí tài chính của LEAPS so với vay margin.
Kỳ hạn dài nhìn từ múi giờ GMT+7
Phiên thường của thị trường Mỹ chạy từ 9:30 đến 16:00 giờ New York, tức khoảng 20:30 đến 3:00 sáng giờ Việt Nam trong giai đoạn giờ mùa hè, và 21:30 đến 4:00 sau khi Mỹ quay về giờ chuẩn vào đầu tháng 11. Người ở GMT+7 không thể trực bảng giá suốt phiên, và đó là bối cảnh thực tế khi so một hợp đồng còn hai tuần với một hợp đồng còn hai năm.
Cơ chế đứng sau khác biệt là theta, phần giá trị thời gian mất đi mỗi ngày. Tính theo tỷ lệ trên tổng phí quyền chọn, theta của một hợp đồng còn hai năm nhỏ hơn nhiều so với hợp đồng còn hai tuần, nên một phiên trôi qua không làm thay đổi nhiều bức tranh của vị thế dài hạn. Điều đó không xóa rủi ro. Toàn bộ phí quyền chọn vẫn có thể mất nếu giá cổ phiếu không đi tới vùng bạn giả định trước khi hợp đồng đáo hạn, và chuỗi mỏng nghĩa là lúc muốn thoát, giá khớp có thể xa mức bạn nhìn thấy trên bảng. Bài này mô tả cơ chế và số liệu, không đưa ra khuyến nghị mua bán.
FAQ
Mọi cổ phiếu Mỹ đều có quyền chọn LEAPS?
Không. Tính đến 24/09/2026, có 1558 mã cơ sở có ít nhất một kỳ đáo hạn xa hơn 365 ngày, và không phải mọi mã đang giao dịch trên các sàn Mỹ đều nằm trong đó. Ở mốc trên 730 ngày, danh sách còn 1008 mã.
LEAPS dài nhất hiện có kéo dài bao lâu?
Trong nhóm mã ở bảng thứ hai, kỳ xa nhất là 19/01/2029 của AAPL, cách ngày tính toán 848 ngày. Quy ước của sàn cho phép niêm yết quyền chọn tới khoảng 39 tháng, nhưng phần thực sự có giao dịch luôn ngắn hơn giới hạn đó.
Quyền chọn LEAPS thường đáo hạn vào tháng nào?
Phần lớn đáo hạn vào ngày thứ Sáu thứ ba của tháng 1, theo cùng quy ước với các kỳ hạn tháng thường. Một số mã giao dịch dày có thêm kỳ tháng 6, tháng 9 hoặc tháng 12 của những năm xa.
Người ở Việt Nam mua LEAPS Mỹ bằng cách nào?
Qua một công ty môi giới có phép giao dịch quyền chọn niêm yết tại Mỹ và nhận khách hàng quốc tế, với tài khoản đã được bật cấp quyền giao dịch quyền chọn. Bài này không giới thiệu hay xếp hạng bất kỳ công ty nào; những con số đáng so sánh trước khi mở tài khoản là phí mỗi hợp đồng, phí quy đổi ngoại tệ, phí chuyển tiền và cách xử lý khi hợp đồng được thực hiện.
Ghi chú dữ liệu và cách đọc số
- Ngày tính toán là phiên gần nhất có dữ liệu chuỗi quyền chọn, in ngay trong bảng đầu tiên ở cột
snapshot_label. Dữ liệu ở mép trước thường trễ một đến hai phiên, nên ngày này có thể không phải hôm nay. - Bảng đếm mã chỉ tính các hợp đồng xuất hiện trong ảnh chụp chuỗi của phiên đó. Một hợp đồng đã niêm yết nhưng chưa có báo giá nào có thể chưa nằm trong đó.
- Bảng chi phí lọc quyền chọn mua có khối lượng khớp trong phiên và có nghiệm biến động ngầm định hội tụ (
iv_converged = 1). Đó là cách chọn một hợp đồng tiêu biểu, không phải hợp đồng rẻ nhất hay phù hợp nhất. - Mỗi hợp đồng quyền chọn cổ phiếu Mỹ tương ứng 100 cổ phiếu, nên chi phí một hợp đồng bằng giá niêm yết nhân 100.
Mỗi bảng ở trên đều mở ra được câu truy vấn đứng sau con số. Muốn kiểm tra một mã cụ thể có LEAPS tới năm nào, hãy hỏi thẳng bằng tiếng Việt trên terminal Strasmore.